(Ý kiến) - "Tới năm 2030, con số tử chiến do nhiệt điện than ở vietnam hằng năm có thể sẽ lên đến 25.000 người, nếu phần đông các nhà máy được xây đắp".
chậm tiến độ là ý kiến của PGS.TS Lê Anh Tuấn – Phó Viện Trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu ĐH Cần Thơ với Đất Việt.
Ô nhiễm cực kì nặng nài nỉ
PV:- Gần đây, trong tài liệu báo cáo về nhân tố đảm bảo bình yên năng lượng, TS Phương Hoàng Kim - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng, Bộ Công thương chắc chắn một trong những đặc điểm khi xây dựng nhà máy nhiệt điện đốt than là gần nguồn cung cấp than, gần nguồn cung cấp nước khiến cho mát với lưu lượng rất lớn sẽ nhiều thuận tiện.
Tuy nhiên, phổ thông nhà công nghệ lo sợ về việc địa điểm của các nhà máy nhiệt điện than tương tự sẽ gây ra nguy cơ ô nhiễm cho Đồng bằng sông Cửu Long, khác biệt, tình hình hạn, mặn đang lấn sâu tham gia trong các con sông của ĐBSCL. Ông có ưng ý với nhận định trên hay không? Xin ông phân tích chi tiết.
PGS.TS Lê Anh Tuấn:- Ở đây có 2 điểm không hợp lý, thứ nhất, nguồn than hiện giờ không nằm ở khu vực ĐBSCL, mà dồn vào một chỗ chính ở phía Bắc, còn giả dụ than nhập thì cũng xa chứ không hề gần, mà đến nay chưa nhân thức nhập ở đâu.
Còn thứ nhị, về nguồn nước, ĐBSCL đích thực chẳng hề nguồn nước dồi dào, nước ngọt càng ngày càng khan thảng hoặc, còn nước mặn thì cả VN, từ Bắc xuống Nam đều nằm giáp với hồ, đâu phải nhất mực ĐBSCL.
ĐBSCL là nơi tập trung đóng chai nông nghiệp, thủy sản lớn nhất nước, hiện nay mà đưa một mô hình công nghiệp gây ô nhiễm tương tự thì không hợp lý.
Những người khiến bên nhiệt điện không nắm bắt hệ sinh thái vùng cửa sông cực kì quan trọng, với nhà máy vùng cửa sông thì nước làm cho mát từ nhà máy nhiệt độ cao, gần 50 độ, các sinh vật ở trong nhiệt độ cao như vậy thì không thể nào phát hành được. Tôi đi khảo sát vùng duyên hải, vùng đất nước máy đổ thải ra không một con tôm, cá nào sống được, rừng ngập mặn cũng chết.
Tương tự chẳng thể nói là làm cho vùng cửa sông, tận dụng nước làm mát cho nhà máy mà không ảnh hưởng, khác biệt khi hạn mặn đang lấn sâu tham gia trong các con sông.
Hiện thời, theo văn bản phê duyệt nhân tố chỉnh Quy hoạch phát hành điện lực non sông thời kỳ 2011 – 2020 có xét đến năm 2030 (gọi tắt là Quy hoạch điện VII Điều chỉnh) đã được chuẩn y ngày 18/3/2016. Theo lược đồ Quy hoạch điện VII Hiệu chỉnh này, tới năm 2020, tổng công suất nhiệt điện than khoảng 26.000 MW, đóng hộp khoảng 131 tỷ kWh điện, choán khoảng 49,3% điện đóng gói toàn quốc, tiêu thụ khoảng 63 triệu tấn than.
|
Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải Trà Vinh |
Đến năm 2030, tổng công suất nhiệt điện than sẽ tăng lên đến khoảng 55.300 MW, đóng gói 304 tỷ kWh, sẽ chiếm đoạt 53,2% điện sản xuất toàn quốc và phải tiêu thụ 129 triệu tấn than mỗi năm. Đến giai đoạn này, Việt Nam sẽ phải nhập hạn độ 89 triệu tấn than/năm từ các nước, gấp nhị lần kỹ năng cung ứng than nội địa (40 triệu tấn than/năm), vì tới thời điểm này nguồn than ở vn đã dần hết sạch hoặc không dễ dàng khai thác thương nghiệp.
Theo Quy hoạch này, một loạt các nhà nhiệt điện than sẽ được xây dựng ở ĐBSCL. Dọc theo tuyến sông Hậu trong khoảng thành phố Cần Thơ, xuống tỉnh Hậu Giang và tiếp ra đến cửa biển giữa hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh đã và đang sinh ra khoảng 15 nhà máy nhiệt điện.
Ngoài các nhà máy dọc theo dòng sông Hậu ra đến biển, ở ĐBSCL còn có các nhà máy nhiệt điện dự định được xây đắp ở Long An (Long An I và II, với công suất lắp máy 1.200 MW/nhà máy) và Bạc Liêu (1.200 MW).
Các dự án nhiệt điện khác ở Kiên Lương, Kiên Giang (Kiên LươngI, II, III) và Than An Giang (2.000 MW), Sông Hậu III (2.000 MW) đã ngừng triển khai sau QH diện VII yếu tố chỉnh. Ngoài ra đó, ở Cà Mau còn có 2 dự án nhiệt điện (Cà Mau I và Cà Mau II) nằm trong tổ thích hợp khí - điện - đạm với công suất ước lượng mỗi nhà máy là 750 MW khi đốt khí; 669,8 MW khi đốt dầu DO.
Với quy mô sản xuất kĩ nghệ năng lượng tương tự trong khoảng nay tới năm 2030, vùng ĐBSCL biến thành một trong những khu vực có mật độ nhiệt điện cao so với cả nước. Phần đông các nhà máy nhiệt điện ở ĐBSCL đều sử dụng nhiên liệu chính là than, ngoài vài ít dùng dầu DO hoặc khí đốt.
Than bây chừ được cung ứng một phần từ các mỏ than ở thức giấc Quảng Ninh và mai sau gần các nhà máy sử dụng than nhập khẩu từ Úc hoặc Indonesia, có thể từ Nga nữa.
PV:- Bây chừ, ĐBSCL đang ở trong tình thế "thập diện mai phục", từ công trình nhà máy giấy của Công ty TNHH giấy Lee&Man vietnam (China) nằm trên cặp bờ sông Hậu (thức giấc Hậu Giang). Cho đến kế hoạch năm 2030 sẽ có 14 nhà máy điện than. Các nhà máy này được quy hoạch xây đắp ở Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ.
Trong đó, nhì trọng tâm chế biến điện than lớn nhất ĐBSCL là Duyên Hải (tỉnh giấc Trà Vinh) và Long Phú (tỉnh Sóc Trăng). Với quy hoạch trên, tính nhàng nhàng cứ một năm tại ĐBSCL lại có một nhà máy điện than ra đời.
Theo ông, với những dự án bủa vây từ đầu nguồn đến hạ nguồn tương tự, ĐBSCL sẽ phải đối diện với những nguy cơ thế nào? Những nguy cơ có thể xảy ra trong khoảng những dự án này như thế nào?
PGS.TS Lê Anh Tuấn:- Việc hạn mặn cũng do một phần thiên tai là chính, do biến đổi khí hậu, nhưng việc phong toả trong khoảng hạ nguồn tới thượng nguồn bởi các hoạt động công nghiệp, thì sự ô nhiễm sẽ nặng vật nài hơn.
Trong các lên tiếng đánh giá tác động môi trường của nhà máy nhiệt điện, họ không xem xét các tác động song song. Chẳng hạn như nhà máy đó được cộng thêm các nhà máy kĩ nghệ khác, dẫn tới tài năng nhẫn nhịn của hệ sinh thái giảm đi rất với tốc độ cao. Còn nguy cơ ô nhiễm thì luôn thường trực.
Xem thêm: váy ngủ gợi cảm hải phòng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét